Đóng dấu giáp lai tiếng anh là gì ?

Đóng dấu giáp lai tiếng anh là gì ?

Cụm từ “đóng dấu giáp lai” được viết trong tiếng anh là gì ? Hãy cùng chúng mình xem ngay nhé:

Đóng dấu trong tiếng anh có 2 động từ thông dụng đó là: AffixStamp.

Vì vậy chúng ta sẽ có 2 cụm từ đi chung với 2 động từ trên:

dong dau giap lai tieng anh la gi
dong dau giap lai tieng anh la gi
  1. Affixed Seal
  2. Stamp on adjoining edges of pages

Chánh văn phòng tiếng anh là gì ?

Cụm từ “chánh văn phòng” trong tiếng anh viết như thế nào ? Hãy cùng tìm hiểu nhé

“Chánh văn phòng” trong tiếng anh là gì ?

Cụm từ “chánh văn phòng” trong tiếng anh viết là “chief of the Secretariat/Staff

Ví dụ: Kể cả sa thải chánh văn phòng trong hoàn cảnh đang có chiến tranh thương mại sao?
=> Not even firing his Chief of Staff in the midst of a trade war?

Ví dụ: Ông bao nhiêu tuổi, Chánh văn phòng Sinclair?
How old are you, Chief of Staff Sinclair?

【XEM】Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7

Trong bài viết này, chúng mình xin gửi đến quý bạn đọc tổng hợp 20 bức tranh siêu đáng yêu, ngộ nghĩnh về đề tài Phong cảnh quê hương của các bạn học sinh lớp 7 đến từ khắp các trường học trên tổ quốc. Mời các bạn đọc thưởng thức nhé.

Tổng hợp tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7

Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7

Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7 Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7

Tranh vẽ phong cảnh quê hương của học sinh lớp 7

Bài thu hoạch đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo

Bài thu hoạch đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo

Chúng mình xin giới thiệu đến các bạn Bài thu hoạch đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo được tổng hợp chi tiết, chính xác và đăng tải ngay sau đây.

Hy vọng qua bài viết này các bạn có thêm nhiều tài liệu tham khảo và dễ dàng viết cho riêng mình một bài thu hoạch hoàn chỉnh.
Mẫu bài thu hoạch Nghị quyết 29 về đổi mới giáo dục

BÀI THU HOẠCH
NHẬN THỨC VỀ GIÁO DỤC TRONG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XI CỦA ĐẢNG NHIỆM KỲ 20… – 20…

Sau khi được học tập, tiếp thu và nghiên cứu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, nhiệm kỳ 20… – 20…, tôi đã nhận thức được các nội dung cơ bản về giáo dục đề cập đến trong NQ thể hiện qua câu hỏi sau:

Câu hỏi: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo” Theo anh (hay chị) làm thế nào để thực hiện nhiệm vụ đó? Liên hệ địa phương, cơ sở ?

Trả lời:

1/ Thực hiện nhiệm vụ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”

Như ta đã biết phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Vì vậy để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo, chúng ta cần phải thực hiện tốt 5 vấn đề sau:

Một là, đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề.

Hai là, thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức.

Ba là, phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.

Bốn là, mở rộng giáo dục mầm non, hoàn thành phổ cập mầm non 5 tuổi. Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở với chất lượng ngày càng cao. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp. Rà soát, hoàn thiện quy hoạch và thực hiện quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng và dạy nghề trong cả nước. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, bảo đảm cơ chế tự chủ gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Tập trung đầu tư xây dựng một số trường, khoa, chuyên ngành mũi nhọn, chất lượng cao.

Năm là, đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên. Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục.

2/ Liên hệ địa phương (……..), đơn vị cơ sở (Trường THCS, THPT) về cách thức, giải pháp thực hiện “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”

a/ Những giải pháp cần thực hiện để nâng cao chất lượng giáo dục của địa phương

Để nâng cao chất lượng giáo dục TH, các giải pháp cần được ngành giáo dục …………….. triển khai đồng bộ, đó là: Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; Đổi mới kiểm tra đánh giá và tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.Cụ thể:

+ Sở giáo dục rà soát, kiểm tra và phân loại học sinh đầu năm học, qua đó chỉ đạo bồi dưỡng phù đạo học sinh yếu kém ngoài giờ lên lớp. Xác định các nguyên nhân học sinh bỏ học và áp dụng các biện pháp vận động tạo điều kiện về hỗ trợ kinh tế để giảm tỉ lệ học sinh bỏ học.

+ Tổ chức chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên các môn học thực hiện dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình GDPT. Chỉ đạo dạy học hiệu quả, đổi mới phương pháp dạy học: Chỉ đạo các Phòng GDĐT tổ chức các hội thảo về đổi mới PPDH, KTĐG ở từng địa phương, cơ sở giáo dục. Chỉ đạo dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông. Chỉ đạo vận dụng các PPDH phát huy tính tích cực, sáng tạo khuyến khích khả năng tự học của học sinh. Tăng cường ứng dụng CNTT hợp lý; tổ chức dạy học sát đối tượng; sử dụng hợp lý SGK khắc phục dạy học theo lối đọc- chép. Qua đó sẽ từng bước làm thay đổi cách dạy của GV tạo ra không khí phấn khởi trong các nhà trường trên địa bàn toàn tỉnh Gia Lai.

+ Trong kiểm tra đánh giá cũng cần thực hiện đổi mới. Căn cứ vào yêu cầu của Bộ về đổi mới KTĐG, Sở GDĐT Gia Lai, phòng GDĐT thành phố Pleiku cần kịp thời tổ chức hướng dẫn các trường quy trình ra đề kiểm tra đánh giá các môn học đảm bảo tỉ lệ: Nhận biết 50%, thông hiểu và vận dụng 50%. Chỉ đạo việc đảm bảo đánh giá sát, đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình; thực hiện đúng quy định của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh của Bộ đã ban hành.

+ Bộ GDĐT cần tổ chức xây dựng và duy trì nguồn học liệu mở với các dữ liệu bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của CTGDPT đưa trên Website của Bộ và cặp nhật thường xuyên để phục vụ dạy học, kiểm tra đánh giá. Sở GDĐT, Phòng GDĐT, Trường THCS, GV sẽ tiếp cận và chủ động triển khai chủ trương này.

+ Xây dựng kế hoạch và triển khai chuẩn bị đánh giá định kỳ kết quả học tập của học sinh nhằm góp phần điều chỉnh việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và tạo cơ sở thực tiễn cho việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông tiếp theo.

+ Phối hợp với các Dự án mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên: Bồi dưỡng giảng dạy theo chuẩn kiến thức, kỹ năng; bồi dưỡng hướng dẫn ra đề kiểm tra đánh giá cho các Phòng GD ĐT huyện, thị xã, thành phố, đôn đốc chỉ đạo việc bồi dưỡng cho giáo viên ở địa phương.

+ Tăng cường cơ sở vật chất thiết bị trường học cho các trường THCS, THPT. Cụ thể: Về thiết bị dạy học cần được tăng cường bổ sung hàng năm đáp ứng yêu cầu giảng dạy; các phòng học được củng cố đầu tư sửa chữa đảm bảo điều kiện học tập cho học sinh; phòng bộ môn đáp ứng được yêu cầu phục vụ khai thác, sử dụng của giáo viên. Sách giáo khoa THCS,THPT được phát hành đầy đủ, kịp thời đến địa phương trong dịp hè để chuẩn bị năm học mới. Tỷ lệ trường phổ thông có thư viện và tủ sách giáo khoa dùng chung trên địa bàn phải đạt theo chuẩn của Bộ GDĐT. Ngoài thiết bị dạy học tối thiểu, cần kiến nghị với địa phương bố trí kinh phí mua sắm các thiết bị dạy học ngoài danh mục tối thiểu phục vụ cho công tác dạy và học ở các cơ sở giáo dục. Phấn đấu hầu hết các trường THCS, THPT trong toàn thành phố có máy tính, máy chiếu để phục vụ công tác quản lý và giảng dạy; các trường THPT, THCS thường xuyên duy trì nối mạng internet để giáo viên khai thác tư liệu phục vụ cho dạy – học.

b/ Xác định nhiệm vụ trọng tâm của năm học (20…- 20….) và năm học tiếp theo

Sang năm học mới, giáo dục TH ở Địa phương cần tiếp tục duy trì và thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; cuộc vận động “Mỗi thầy cô là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” cùng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Phát huy kết quả 5 năm thực hiện cuộc vận động “Hai không”, đưa hoạt động này trở thành hoạt động thường xuyên trong các cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục trung học của địa phương.

Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục. Cụ thể:

+ Bồi dưỡng giáo viên nâng cao năng lực nghề nghiệp theo chương trình bồi dưỡng hè, bồi dưỡng thường xuyên; tăng cường NCKH sư phạm ứng dụng; quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cốt cán các môn học ở trường TH; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý.

+ Tăng cường xây dựng CSVC trường học, tạo chuyển biến rõ rệt của các trường TH trong việc xây dựng, cải tạo cảnh quan nhà trường; tăng cường xây dựng CSVC nhà trường theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa, đẩy nhanh xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia phấn đấu năm 20…. có …..% số trường THCS và 20% số trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

+ Thực hiện phổ cập giáo dục: Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Hội nghị tổng kết …………. năm thực hiện phổ cập giáo dục THCS; tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng tỉ lệ đạt chuẩn PCGDTHCS, thực hiện phổ cập giáo dục trung học ở những nơi có điều kiện) giai đoạn ………….; chỉ đạo các địa phương phấn đấu 100% số xã trên phạm vi toàn tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS vào năm 20…

c/ Liên hệ bản thân và giải pháp đề xuất

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ngành giáo dục địa phương bản thân tôi có những đề xuất và giải pháp cụ thể sau :

+ Mỗi cán bộ GV phải không ngừng phấn đấu thực hiện tốt Nghị quyết của đảng uỷ các cấp về giáo dục từ trung ương đến địa phương. Mỗi cá nhân cần xác định được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Luôn học tập đổi mới theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh”, tự học và trau dồi kiến thức, kĩ năng, nghiệp vụ chuyên môn.

+ Thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới toàn diện Giáo dục và Đào tạo, ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Tập trung quy hoạch Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên môn, đạo đức lối sống đội ngũ cán bộ giáo viên và học sinh; thực hiện tốt việc luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại…cán bộ quản lý trường học gắn với giải quyết chính sách theo Nghị định 132 của chính phủ. Tăng cường công tác xây dựng Đảng trong trường học; nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về Giáo dục và Đào tạo; thực hiện tốt quy chế dân chủ thường xuyên thanh tra theo chuyên ngành nhằm phát hiện, khắc phục những yếu kém trong Giáo dục, đồng thời biểu dương khen thưởng xứng đáng và kịp thời những điển hình tiên tiến.

+ Đối với Chính quyền cấp huyện, xã cần quan tâm hơn nữa công tác xã hội, giáo dục địa phương.

…, ngày … tháng … năm 20…..

Người viết

BẢN KIỂM ĐIỂM ĐẢNG VIÊN CUỐI NĂM 2015 – Tải trực tiếp

BẢN KIỂM ĐIỂM ĐẢNG VIÊN CUỐI NĂM 2015 – Tải trực tiếp

Trong bài viết này, chúng tôi xin gửi đến bạn đọc mẫu bản kiểm điểm đảng viên cuối năm 2015.

BẢN KIỂM ĐIỂM ĐẢNG VIÊN CUỐI NĂM 2015 BẢN KIỂM ĐIỂM ĐẢNG VIÊN CUỐI NĂM 2015

Bạn có thể tải trực tiếp file word của mẫu bản này qua đường link dưới đây:

https://drive.google.com/open?id=1aNicDRl9mqZUG0L3TMmkKGuuy5Ng5-47

Tìm hiểu “Bộ nhận diện thương hiệu” tiếng anh là gì ?

Bạn đang tìm kiếm bộ sưu tập hệ thống nhận diện thương hiệu đẹp từ nước ngoài nhưng không biết bộ nhận diện thương hiệu tiếng anh là gì. Sau đây chúng tôi sẽ giải thích kĩ càng cho bạn

Bộ nhận diện thương hiệu trong tiếng anh:

Bộ nhận diện thương hiệu trong tiếng anh được viết là : CIP (là từ viết tắt của Corporation Identify Program) có nghĩa là hệ thống các đặc điểm về hình ảnh font chữ, màu sắc, hình ảnh logo, website, đồng phục nhân viên, cattalogue, banner, letter, card visit… để tạo nên đặc điểm nhận dạng riêng cho thương hiệu, tránh sự nhầm lẫn với các nhãn hiệu thương hiệu khác trên thị trường. CIP chính là bộ nhận diện thương hiệu (hay còn được gọi là bộ nhận dạng thương hiệu).

bộ nhận dạng thương hiệu tiếng anh là gì?
Đây là tập hợp những đồ vật hợp tạo thành một bộ nhận diện thương hiệu

Cụm từ “cơ sở pháp lý” tiếng anh là gì ?

Cụm từ “cơ sở pháp lý” tiếng anh là gì ? Hãy cùng tham khảo ngay nhé.

Cụm từ “cơ sở pháp lý” trong tiếng anh có thể ghi là Legal basis, hoặc cũng có thể dùng Legal foundation

"cơ sở pháp lý" tiếng anh là gì ?
“cơ sở pháp lý” tiếng anh là gì ?

Nâng cao tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức

Nâng cao tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức

1- Ở nước ta hiện nay, cải cách hành chính là vấn đề rất quan trọng của việc củng cố, hoàn thiện bộ máy công quyền “công bộc của dân”, có quan hệ trực tiếp đến lợi ích của nhân dân trong các lĩnh vực hoạt động.

Mục tiêu của Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 – 2020 là tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn II (2016 – 2020). Trong đó, tập trung thực hiện các trọng tâm cải cách hành chính giai đoạn 2016 – 2020 là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.

Đồng thời, khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện giai đoạn 2011 – 2015 của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ; gắn kết công tác cải cách hành chính của các bộ, ngành và địa phương; tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của cải cách hành chính để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước đến năm 2020.

2 – Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời rất quan tâm đến tinh thần trách nhiệm của cán bộ.

Nói về tinh thần trách nhiệm của cán bộ, Người viết: “Tinh thần trách nhiệm… là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi, đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công”. Người còn nhấn mạnh: “Tinh thần trách nhiệm là: Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”. Còn thiếu tinh thần trách nhiệm, theo Người, là làm việc một cách cẩu thả, làm cho có chuyện; dễ làm, khó bỏ; đánh trống, bỏ dùi; gặp sao hay vậy.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức
Nâng cao tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức

Hiện nay, sự thiếu tinh thần trách nhiệm của không ít cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính không chỉ gây trở ngại cho việc cải cách hành chính mà còn gây trở ngại cho việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước. Đây là vấn đề bức xúc cần được chấn chỉnh ngay.

3 – Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính ở nước ta hiện nay, cần thực hiện đồng thời các giải pháp sau:

Một là, tăng cường giáo dục tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, công chức. Trước hết, cần làm cho cán bộ, công chức nhận thức một cách sâu sắc rằng, Đảng ta là Đảng cầm quyền; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Cần làm cho cán bộ, công chức quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thái độ, trách nhiệm của Đảng, Chính phủ nói chung và của người cán bộ cách mạng nói riêng đối với nhân dân. Đặc biệt, cần chú ý đến tư tưởng sau đây của Người: Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Đảng và Chính phủ phải có trách nhiệm đối với nhân dân. Nếu để nhân dân đói, rét, không được học hành là Đảng và Chính phủ có lỗi. Đảng và Chính phủ là “công bộc” của nhân dân; cán bộ của Đảng, của Nhà nước cũng là “công bộc” của nhân dân. Vì vậy, trách nhiệm của cán bộ, công chức trước hết là trách nhiệm đối với nhân dân. Trách nhiệm đối với nhân dân cũng là trách nhiệm của Đảng và Chính phủ. Mỗi cán bộ, công chức trong bộ máy công quyền phải thật thấu hiểu mình là “công bộc” của nhân dân chứ không phải là những “ông quan cách mệnh” ăn trên, ngồi trốc, đè đầu cỡi cổ nhân dân như bọn quan lại phong kiến, thực dân.

Hai là, đẩy mạnh việc tự phê bình và phê bình trong tất cả các cơ quan hành chính các cấp. Cần làm rõ mỗi cán bộ, công chức có hoàn thành nhiệm vụ được giao hay không. Trên cơ sở đó, xem xét, đánh giá tinh thần trách nhiệm của họ và có thái độ xử lý thỏa đáng đối với những người thiếu tinh thần trách nhiệm. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề này. Người viết: “Hiện nay, phong trào tự phê bình và phê bình đang mở rộng ở nhiều nơi. Đó là một bước tiến đáng mừng. Nhưng trong những cuộc kiểm thảo, có một thiếu sót chung và quan trọng là chưa nêu thật rõ tinh thần trách nhiệm” .

Ba là, xây dựng chế độ trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức, nhất là đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ, công chức cần được giao chức trách, nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể với những quyền hạn nhất định. Trên cơ sở đó, thường xuyên tiến hành kiểm tra việc làm của họ. Nếu họ không hoàn thành nhiệm vụ thì nghĩa là họ đã thiếu tinh thần trách nhiệm, chứ không phải là thiếu trách nhiệm vì trách nhiệm đã được giao rõ ràng, cụ thể.
Trong các cơ quan hành chính, cần thực hiện chế độ thủ trưởng, nghĩa là cần xây dựng chế độ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu. Thủ trưởng hay người đứng đầu cơ quan, đơn vị chẳng những chịu trách nhiệm về những sai lầm, khuyết điểm của bản thân mà còn phải chịu trách nhiệm về những sai lầm, khuyết điểm của những cán bộ dưới quyền trong khi thi hành nhiệm vụ. V.I. Lê-nin nói rất đúng rằng: “Một người lãnh đạo chính trị không những phải chịu trách nhiệm về cách mình lãnh đạo, mà còn phải chịu trách nhiệm về hành động của những người dưới quyền mình nữa. Đôi khi người lãnh đạo không biết những hành động đó, thường là không muốn cho những hành động đó xảy ra, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về những hành động đó”. Điều đó làm cho người thủ trưởng phải đi sâu, đi sát, kiểm tra thường xuyên công việc của cán bộ, công chức dưới quyền; kịp thời phát hiện và xử lý những sai lầm, thiếu sót của họ, không để cho tình trạng bê bối, tiêu cực xảy ra trong cơ quan, đơn vị mình mà thủ trưởng không hay biết.

Bốn là, xây dựng chế độ trách nhiệm đối với các cơ quan quản lý cán bộ các cấp. Theo đó, nếu cán bộ, công chức thuộc cơ quan mình quản lý phạm phải những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng mà không được kịp thời phát hiện và xử lý thì cơ quan đó cũng phải chịu trách nhiệm, chịu kiểm điểm nghiêm túc về thiếu tinh thần trách nhiệm, không làm tròn nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện chế độ trách nhiệm của các cơ quan chức năng như thanh tra, kiểm tra, tổ chức. Các cơ quan này phải có sự phối hợp chặt chẽ và cộng đồng trách nhiệm trong việc giúp Đảng, chính quyền các cấp làm tốt công tác quản lý cán bộ, công chức. Nếu cán bộ, công chức phạm sai lầm trong công tác, gây tổn thất cho Đảng, Chính phủ và nhân dân mà không được kịp thời phát hiện, báo cáo với cơ quan lãnh đạo thì cũng bị xử lý về thiếu tinh thần trách nhiệm.

Năm là, có quy định về chế độ trách nhiệm trong công tác làm báo cáo của cấp dưới đối với cấp trên. Đây là một kênh thông tin quan trọng, giúp cấp trên nghiên cứu, xử lý đúng các vấn đề trong lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, báo cáo phải theo đúng thời gian quy định. Nội dung báo cáo phải nêu đúng sự thật về kết quả, ưu, khuyết điểm và nguyên nhân; những khó khăn, thuận lợi của cơ quan đơn vị, địa phương và các biện pháp giải quyết; những đề nghị với cấp trên. Người chịu trách nhiệm đối với báo cáo là thủ trưởng của cơ quan, đơn vị, địa phương. Nếu vì bệnh thành tích mà báo cáo sai sự thật thì người thủ trưởng phải bị xử lý nghiêm về thiếu tinh thần trách nhiệm. Chúng ta còn thái độ dễ dãi đối với việc làm báo cáo, không xử lý nghiêm những người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương về những khuyết điểm trong việc làm báo cáo. Chẳng hạn, thời gian qua, trong thực hiện quy chế “một cửa” theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có tỉnh chưa thực hiện mà đã báo cáo nhưng người đứng đầu ở nơi đó vẫn không bị xử lý kỷ luật về thiếu tinh thần trách nhiệm. Tóm lại, phải có quy định về chế độ trách nhiệm trong công tác làm báo cáo của cấp dưới đối với cấp trên thì mới khắc phục được tình trạng “làm láo báo cáo hay”, làm báo cáo qua loa đại khái hoặc không làm báo cáo.

Sáu là, có quy định rõ về chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức được giao thực hiện cơ chế “một cửa”. Để thực hiện cơ chế “một cửa” trong cải cách hành chính, những cán bộ, công chức được giao thực hiện cơ chế này chẳng những phải được bồi dưỡng, nâng cao kiến thức tổng hợp, trình độ nghiệp vụ và công tác dân vận, mà còn phải có quy định rõ về chức trách, nhiệm vụ của những người đó. Chỉ có như vậy mới nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ và họ mới thực sự trở thành “công bộc” của dân, phục vụ nhân dân, không gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân; giải quyết công việc của nhân dân chính xác, mau chóng, đúng luật, đúng thời gian quy định, tránh lối làm việc lề mề, qua loa, tắc trách.

Bảy là, xây dựng và thực hiện cơ chế giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức. Đây là biện pháp rất quan trọng để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ. Về điều này, lâu nay chúng ta đã nói nhiều mà chưa làm, chưa thể chế hóa nó thành luật pháp với những quy định cụ thể và có tính khả thi.

Có như vậy mới nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức và của nhân dân, làm cho nhân dân ngày càng ý thức rõ trách nhiệm và quyền lợi của công dân với tư cách là người làm chủ đất nước.
Nếu Đảng, Nhà nước làm tốt việc giáo dục tinh thần trách nhiệm và xây dựng chế độ trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức để mỗi cán bộ, công chức không ngừng rèn luyện và nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình trong thực thi công vụ, sẽ tạo nên một động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc thực hiện chương trình cải cách hành chính nhà nước đi đến thắng lợi.

Nghị định trong tiếng anh là gì ?

Nghị định trong tiếng anh là gì ? hãy cùng tìm hiểu ngay nhé

Từ nghị định trong tiếng anh viết là Decree

Ví dụ : In an emergency decree, the government banned all rallies.

Trong một nghị định khẩn cấp, chính phủ đã nghiêm cấm mọi loại hình đua xe

Nghị định tiếng anh là gì ?
Nghị định tiếng anh là gì ?

Một số từ ngữ pháp luật khác:

National Assembly: Quốc hội:
Session : Kỳ họp thứ:
Legislature : Khóa:
Decision: Quyết định
Ordinance: Pháp lệnh
Circular: Thông tư
Joint Circular: Thông tư liên tịch
Resolution: Nghị quyết
Directive: Chỉ thị
Admendment (Thường nhắc tới trong Hiến pháp Hoa kỳ): Tu chính án
Convention/Covenant: Công ước
Bill: dự luật
Code (of Law): Bộ luật
Protocol: Nghị định thư
Charter/Magna Carta (Anh): Hiến chương
Constitution: Hiến pháp
Treaty/Pact/Compact/Accord: Hiệp ước
Agreement: Hiệp định/Thỏa thuận – Ví dụ bọn Ray đang làm về JOA – Joint Operating Agreement – Thỏa thuận Điều hành Chung
Convention/Covenant: Công ước
Act: Định ước, sắc lệnh, đạo luật
By-law document: Văn bản dưới luật
Supplement/Modify/Amend: Bổ sung, sửa đổi
Master Plan: Kế hoạch tổng thể
Terms and Conditions: Điều khoản và điều kiện
Article: Điều/Điều khoản
Item/Point: Điểm
Paragraph: Khoản
Joint Committee : Ủy ban Liên hợp:
Issue/ Promulgate: Ban hành
Regulate/Stipulate: Quy định
Approve: Phê duyệt
Submit: Đệ trình – Submited to the Prime Minister for approval.
For and On Behalf of: Thay mặt và Đại diện
Sign and Seal: Ký và đóng dấu (Nếu có đóng dấu rồi thì là “Signed and Sealed”)
(Public) Notary : Công chứng viên:
Come into effect/Come into full force/Take effect : Có hiệu lực:
To be invalidated/to be annulled/to be invalid : Mất hiệu lực:
Ordinance : Pháp lệnh,

Resolution : Nghị quyết:

Order : Lệnh

Decision : Quyết định
Decree : Nghị định

Directive : Chỉ thị
Circular : Thông tư

Võ Văn Thưởng cháu Võ Văn Kiệt là tin đồn đúng hay sai ?

Gần đây có nhiều người đặt câu hỏi Võ Văn Thưởng – Bí thư thứ nhất Trung ương đoàn có phải là con của Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt không? Thực hư như thế nào chúng tôi sẽ giải đáp dưới bài viết này.

Võ Văn Thưởng cháu Võ Văn Kiệt là tin đồn đúng hay sai ?

Võ Văn Thưởng có phải là cháu của Võ Văn Kiệt không ?
Võ Văn Thưởng có phải là cháu của Võ Văn Kiệt không ?

Xin phép được trả lời rằng hông phải, Võ Văn Thưởng quê ở Hải Dương, sinh năm 1970

Còn riêng gia đình Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt thì ông tên thật là Phan Văn Hoà, nguyên quê ở huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long.
Ông có hai đời vợ. Người vợ đầu của ông, bà Trần Kim Anh, có với ông 4 người con: Phan Chí Dũng (sinh năm 1951), Phan Hiếu Dân (sinh năm 1955), Phan Thị Ánh Hồng (sinh năm 1958) và Phan Chí Tâm (sinh năm 1966). Năm 1966, bà Trần Kim Anh cùng hai người con út, là Ánh Hồng và Chí Tâm, đã thiệt mạng trong một cuộc càn ở chiến khu Củ Chi.
Phan Chí Dũng, người con cả của ông, hi sinh năm 20 tuổi trong một lần đi trinh sát.
Ngoài 4 người con với người vợ đầu, ông còn một người con sinh năm 1952 ở miền Bắc tên là Phan Thanh Nam, người đã thay mặt gia đình đọc lời cảm tạ trong lễ tang ông

Người vợ thứ hai là bà Phan Lương Cầm, hai người không có con.